Tư vấn kĩ thuật cây Gừng

I. Giới thiệu

1. Phân loại

  • Tên khoa học:  Zingiber officinale Roscoe.
  • Họ: Gừng (Zingiberaceae)
  • Tên khác: Khương, co khinh (Thái), sung (Dao).
  • Tên vị thuốc: Sinh khương, can khương. 

2. Nguồn gốc, phân bố

Chi Zingiber Boehmer ở châu Á có khoảng 45 loài trong đó Việt Nam có 11 loài.

Gừng là loại cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng  nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước trồng nhiều gừng nhất thế giới.

3. Đặc điểm thực vật

Gừng là cây thảo sống lâu năm, cao 0,6 – 1m.

Thân rễ nạc và phân nhánh xòe ra như hình bàn tay gần như trên cùng một mặt phẳng, màu vàng có mùi thơm.

 Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác thuôn, thắt lại ở gốc,  đầu nhọn, dài 15  –  20cm, rộng 2cm, không cuống, có bẹ nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới nhạt, khi vò có mùi thơm, vị cay nóng.

4. Điều kiện sinh thái

Gừng là loại cây ưa sáng, ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng. Cây gừng được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới (nhiệt độ trung bình 21  – 27°C, lượng mưa 1.500 – 2.500mm, độ cao đến 1.500m), có mùa khô ngắn. Gừng là loài ưa sáng nhưng có khả năng chịu bóng nên thường được bố trí trồng xen

5. Giá trị làm thuốc

Bộ phận sử dụng: Thân rễ, thu hái vào mùa thu đông, dùng tươi là sinh khương, phơi hoặc sấy khô là can khương. Còn dùng tiêu khương (gừng khô thái lát dày, sao sém vàng, đang nóng, vảy vào ít nước, đậy kín, để nguội.); bào khương (gừng khô đã bào chế); thán khương (gừng khô thái lát dày, sao cháy đen tồn tính).

II. Kỹ thuật trồng trọt

1.  Chọn vùng trồng

Ở Việt Nam, gừng được trồng ở khắp các địa phương từ vùng đồng bằng Bắc bộ, Nam bộ (trong các vườn gia đình cũng như tập trung ngoài đồng ruộng), đến các vùng núi thấp, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang…, Rồi đến các huyện phía Bắc tỉnh Hà Giang; Sìn Hồ (Lai Châu); Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai) tùy thuộc vào giống. 

Đất thích hợp để trồng gừng phải là đất tốt vì cây có nhu cầu dinh dưỡng tương đối cao (đặc biệt là đạm, sau đó là kali và lân), có pH 5,5 – 6,0, tầng canh tác dày 20 – 40 cm, không bị ngập úng và tơi xốp, nhiều mùn.

2. Thời vụ  trồng

Ở miền Bắc trồng từ đầu Xuân (tháng 1 – 2) đến cuối Xuân (tháng 4 – 5). Thời vụ tốt nhất là tháng 2 – 3 ở đồng bằng, tháng 3 – 4 ở trung du và miền núi. 

3. Mật độ, khoảng cách trồng

Tùy thuộc vào độ màu của đất để bố trí mật độ, khoảng cách trồng thích hợp.

4. Kỹ thuật làm đất

Gừng trồng được trên nhiều loại đất. Nhưng tốt nhất là đất nhẹ, nhiều mùn, thoát nước, đủ ẩm, có che bóng một phần càng tốt.

Làm đất là khâu rất quan trọng khi trồng gừng. Đất trồng gừng không được trồng chuyên canh, mà nên trồng luân canh hoặc xen canh với các loại cây trồng khác.

5. Kỹ thuật trồng

5.1. Chọn giống

Gừng giống có thể lấy ngay sau khi thu hoạch hoặc sau khi bảo quản trong thời gian ngắn. Chọn củ già, phần thân chính của nhánh gừng hay gừng đủ 9 tháng tuổi trở lên. Cần chọn các củ trung bình, bóng láng, không bị xây xát, đem để lên lớp cát khô trong mát hay để nơi thông gió để giống cho vụ sau.

5.2 Xử lý giống

– Bước 1: Lọc và ủ giống

– Bước 2: Tách hom giống

5.3 Bón lót

Lượng phân bón cần dùng: 15 lít chế phẩm xử lý đất + 20 tấn phân chuồng + 30 kg Trichoderma + 400 kg lân.

5.4 Trồng

Dùng cuốc bới lại các hố đã được bón lót khi làm đất.

Đập đất cho nhỏ, trộn đều với phân lót, lấp một lớp đất mỏng lên trên miệng hố;

Dùng dầm moi đất ở vị trí giữa hố, rải một lượt đất mỏng xuống đáy.

Đặt mỗi hốc một mầm giống (đã chuẩn bị trước) sâu 5 -7 cm, mắt mầm (chồi) hướng lên hoặc hướng ngang, lấy đất mịn phủ lên rồi ấn chặt tay để đất tiếp xúc tốt với củ, sau đó phủ đất mịn cho bằng mặt luống, phủ đất mỏng, rơm rạ hoặc cỏ khô và  tưới. Sau một tháng mầm nhú lên khỏi mặt đất.

6. Chăm sóc sau trồng

  • Gừng ít bị sâu hại, chủ yếu bị hai loại bệnh héo xanh và héo vàng gây hại khá nguy hiểm ở các vùng trồng với diện tích lớn.
  • Biện pháp phòng trừ
  • Đối với cả hai bệnh này, biện pháp canh tác cần đặc biệt chú trọng nhằm hạn chế sự lây lan của bệnh. Các loại thuốc trừ bệnh hầu như không có hiệu quả vì tác nhân gây bệnh tồn tại bên trong mạch dẫn của cây, rất khó phòng trừ.
  • Tuyệt đối không lấy giống từ những ruộng hay khu vực đã bị nhiễm bệnh
  • Cần chú ý thoát nước kịp thời cho ruộng gừng, không nên để đất quá ẩm vì bệnh vi khuẩn lan truyền rất nhanh qua đường nước.
  • 8. Thu hoạch chế biến bảo quản

    Sau khi trồng từ 4- 6 tháng, thu hoạch củ, nhưng cũng có thể để đến lúc cây 1 năm mới thu hoạch hoặc 2 năm . Khi thời tiết hanh khô, lúc lá gừng chuyển sang màu vàng sẫm, cây khô héo trên 2/3 số lá là có thể thu hoạch được. Khi thu hoạch dùng cuốc đào  tránh cho rễ củ không bị đứt hay bị sây sát tổn thương.

    Khi thu hoạch dùng cuốc đào  tránh cho rễ củ không bị đứt hay bị sây sát tổn thương. Kĩ thuật thu tránh gãy là giữ nguyên cả khóm củ gừng ta cuốc  gốc 20-25cm, sau đó nhổ nhẹ để lấy cả khóm củ, tỉa hết đất để có tảng củ của khóm.

    Những rễ củ đã đào lên, khẽ gõ đất cho tơi ra hết, cho vào bao tải, chuyển về nơi sơ chế.

    Để lại một bình luận

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *