Râu Mèo

Tên khoa học: Orthosiphon spiralis (Lour.) Merr.
Họ: Hoa môi (Lamiaceae).
Tên khác: Râu mèo xoắn.

Phân bố: Phân bố rải rác ở vùng đồng bằng và miền núi như: Cao Bằng, Thanh Hoá (Vĩnh Lộc), Hà Tây (Ba Vì), Lâm Đồng, Phú Yên (Tuy Hoà), Vũng Tàu – Côn Đảo (Bà Rịa), Ninh Thuận (Phan Rang), Kiên Giang (Phú Quốc)…

Đặc điểm: Cây có chiều cao từ 0,8m – 1,0 m, thân mảnh, cứng hình vuông, có màu tím, phân cành tập trung ở trên, có nhiều đốt, đường kính thân 4 – 6 mm. Cụm hoa là chùm xim co thường mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, lá bắc nhỏ rụng sớm.

Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc trên đất giàu chất mùn. Cây phân bố ở những nơi có độ cao từ 10m (ở Phú Yên) đến 600 m (ở Cao Bằng) so với mực nước biển. Cây sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè.

Công dụng: Làm thuốc lợi tiểu trong điều trị bệnh viêm thận cấp và mãn, viêm bàng quang, sỏi thận, sỏi mật, tê thấp, phu thũng, viêm gan. Theo tài liệu Ấn Độ coi dịch hãm lá râu mèo là thuốc điều trị đặc hiệu các bệnh thận và bàng quang, ngoài ra còn điều trị bệnh thấp khớp và bệnh gút.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *