Mướp Đắng

Tên khoa học: Momordica charantia L.
Họ: Bầu bí (Cucurbitaceae).
Tên khác: Khổ qua, lương qua, cẩm lệ chi.

Phân bố: Ở Việt Nam, cây được trồng ở hầu hết các tỉnh từ đồng bằng đến trung du và miền núi.

Đặc điểm:

Mướp đắng là loại cây dây leo, thân có góc cạnh, lá mọc so le, phiến lá chia 5 – 7 thùy hình trứng, mép có răng cưa. Hoa mọc đơn

độc ở kẽ lá, hoa đực cái cùng gốc, có cuống dài màu vàng nhạt. Quả to hình thon dài, trên mặt có nhiều u nổi lên, lúc còn non có màu xanh, khi chín có màu vàng hồng. Hạt dẹt gần giống hạt bí ngô, quanh hạt có màng đỏ như hạt gấc.

Mướp đắng là cây có biên độ sinh thái tương đối rộng. Ở Việt Nam, mướp đắng được trồng nhiều nơi trên toàn quốc. Trong đó khu vực đồng bằng cho năng suất cao nhất. Mướp đắng sinh trưởng, phát triển tốt ở các vùng có đất đai màu mỡ, nhiều mùn, cao ráo, dễ thoát nước. Nhiệt độ thích hợp 15 – 30oC, về mùa đông nhiệt độ thấp cây vẫn sống được. Lượng mưa hàng năm
dưới 2000 – 2400mm.

Bộ phận sử dụng: Quả, lá và hạt. Quả thu hái khi có màu vàng lục dùng tươi. Hạt lấy ở quả chín, phơi khô. Lá và rễ thu quanh năm.

Công dụng: Quả mướp đắng được dùng làm thuốc mát, chữa ho, sốt, đái rắt, đái buốt, bệnh phù thũng do gan nhiệt, chữa đái tháo đường. Hoa mướp đắng phơi khô tán nhỏ uống chữa đau dạ dày.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *