Tên khoa học: Sigesbeckia orientalis L.
Họ: Cúc (Asteraceae).
Tên khác: Cỏ đĩ, cỏ cứt lợn, nhả khỉ cáy.
Phân bố: Ở Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du phía bắc như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Thanh Hóa…
Đặc điểm:
Hy thiêm là cây thân thảo, sống hàng năm, cây cao 30 – 90 cm, có nhiều cành, có lông tuyến. Lá mọc đối cuống ngắn, lá đơn hình 3 cạnh hay thuôn hình quả trám, đầu lá nhọn gốc hình tim, mép có răng cưa, mặt dưới hơi có lông.
Cây thường mọc nhiều vào mùa xuân và lụi vào cuối mùa hè ở đồng bằng còn ở miền núi cây mọc muộn hơn vào đầu hè, tàn lụi vào đầu và giữa mùa đông. Mùa gieo trồng, thu hoạch ở đồng bằng và trung du từ tháng 1 – 5. Cây ra hoa đồng thời với quá trình sinh trưởng phát triển.
Cây ưa ẩm, ưa ánh sáng, thường mọc tương đối tập trung trên đất ẩm các bãi sông, ruộng hoang, ruộng trồng, ven đường. Cây có biên độ sinh thái rộng, thích hợp nhiều vùng đất.
Bộ phận sử dụng: Phần trên mặt đất được phơi hoặc sấy khô.
Công dụng: Trừ phong thấp, thanh nhiệt, giải độc. Hy thiêm được dùng điều trị phong thấp, tê bại, khớp sưng nóng đỏ và đau nhức, đau lưng, mỏi gối, mụn nhọt, lở ngứa, kinh nguyệt không đều.

