Tên khoa học: Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen
Họ: Nhân sâm (Araliaceae)
Tên khác: kim bất hoán, nhân sâm tam thất, sâm tam thất
Phân bố: Cây tam thất được trồng từ lâu nhưng với một lượng ít ở tỉnh Hà Giang (Đồng Văn), Lào Cai (Mường Khương, Bát Xát, Phà Lùng), Cao Bằng, … tại các vùng núi cao 1.200-1.500m.
Đặc điểm: Cây thảo, sống nhiều năm. Rễ củ hình con quay. Thân mọc thẳng, cao 30 – 50 cm, màu tím tía. Lá kép chân vịt, 3 – 4 cái mọc vòng gồm 5 – 7 lá chét hình mác, gốc thuôn, đầu có mũi nhọn, mép khía răng, hai mặt có lông cứng ở gân, mặt trên sẫm, mặt dưới nhạt.
Cụm hoa mọc thành tán đơn ở ngọn thân; hoa màu lục vàng nhạt; đài 5 răng ngắn; tràng 5 cánh rộng ở phía dưới; nhị 5; bầu 2 ô. Quả mọng, hình cầu dẹt, khi chín màu đỏ; hạt màu trắng. Mùa hoa: tháng 5 – 7; mùa quả: tháng 8 – 10.
Bộ phận sử dụng: Rễ Tam thất được thu hái trước khi ra hoa, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, rồi phân loại thành rễ củ, rễ nhánh và thân rễ
Công dụng: Tam thất được dùng chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong kinh, sau khi đẻ huyết hôi không ra, ứ trệ đau bụng, kiết lỵ ra máu, đi tiểu ra máu, có tác dụng hoạt huyết, làm tan ứ huyết, chữa sưng tấy, thiếu máu, người mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ, vết thương chảy máu.

